Để có thể hợp tác và thực hiện thành công dự án đầu tư đòi hỏi các nhà đầu tư phải đồng thuận về ý chí; có khả năng tài chính; có kinh nghiệm quản lý, kinh doanh trong lĩnh vực dự kiến đầu tư; xây dựng được phương án và chiến lược kinh doanh khả thi... Như vậy, các bên phải tự kiểm tra và thống nhất với nhau những điều kiện cụ thể để hợp tác đầu tư và dự liệu những rắc rối có thể nảy sinh. Nhìn dưới góc độ pháp lý, chúng tôi chỉ có thể lưu ý với bạn một số vấn đề như sau:
Trước hết, để tránh hợp đồng BCC có thể bị vô hiệu, các bên cần kiểm tra xem công ty đối tác và trường đua có chức năng kinh doanh lĩnh vực mà dự án sẽ thực hiện không? Người đại diện ký hợp đồng BCC của mỗi bên có phải là người có đủ thẩm quyền ký kết không? Nội dung hợp đồng có điều khoản nào trái pháp luật không? Các bên phải thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng các vấn đề như: Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý...
Thứ hai, mặc dù đơn vị của bạn hợp tác đầu tư với đối tác trên cơ sở hợp đồng BCC nhưng theo quy định của pháp luật về đầu tư (Điều 46, 47 Luật Đầu tư) thì đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Hợp đồng BCC phải nộp kèm theo Hồ sơ dự án). Đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và dự án thuộc Danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì phải thực hiện thủ tục thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Hợp đồng BCC phải nộp kèm theo Hồ sơ dự án).
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư các bên mới có thể triển khai dự án đầu tư theo kế hoạch và phải phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thực hiện dự án đầu tư.